Chẩn đoán bệnh mạch vành chỉ dựa vào triệu chứng liệu đã đủ?

Cũng chỉ vì dựa vào triệu chứng để chẩn đoán bệnh mạch vành mà đã khiến nhiều người bệnh chẩn đoán sai và tự ý điều trị, điều này để lại nhiều rủi ro nghiêm trọng. Để xác định được chính xác bệnh mạch vành và mức độ nặng nhẹ thì cần phải làm thêm một số các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh.

Mỗi năm cả thế giới chi ra khoảng 108,9 tỷ đô la, tương đương với 2.5 ngàn tỷ VNĐ để điều trị bệnh mạch vành. Đây không chỉ là gánh nặng đối với y tế mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế. . Do vậy mà việc chẩn đoán bệnh mạch vành sớm và chuẩn xác rất quan trọng giúp xây dựng chiến lược điều trị thích hợp ngay từ đầu, giảm tỷ lệ nhập viện cũng như kéo dài tuổi thọ.

Quá trình khám bệnh bắt đầu từ việc khai thác triệu chứng, sau đó bác sĩ sẽ cho người bệnh làm một số xét nghiệm như điện tâm đồ, xét nghiệm máu, chụp mạch vành, có thể chụp cắt lớp tuỳ theo tình trạng cụ thể.

Triệu chứng chưa đủ cơ sở để xác định bệnh

Định nghĩa bệnh mạch vành là sự thu hẹp dòng máu trong lòng mạch máu nuôi tim. Nguyên nhân chủ yếu do xơ vữa động mạch. Chúng là kết quả của việc thành mạch máu bị tổn thương, sau đó tích lũy hạt mỡ xấu, canxi và chất thải tế bào ở vị trí này tạo ra mảng xơ vữa. Một số khác là do co thắt mạch vành nhưng rất ít gặp.

Triệu chứng bệnh mạch vành điển hình nhất là cơn đau thắt ngực với cảm giác đau âm ỉ hoặc nhói như dao đâm ở vùng sau xương ức, có thể lan lên trên cổ, hàm, hai bên bả vai và cánh tay. Có đến 50% người bệnh gặp phải dấu hiệu này từ rất sớm. Ngoài ra, khó thở, mệt mỏi khi mới chỉ gắng sức nhẹ, khó tiêu, đánh trống ngực do tim đập nhanh, đau họng hoặc đau cổ cũng có thể xảy ra.

 Rất nhiều phụ nữ không có cơn đau ngực khi bị bệnh mạch vành

Rất nhiều phụ nữ không có cơn đau ngực khi bị bệnh mạch vành

Mặc dù vậy, đây cũng là dấu hiệu của nhiều tình trạng không do tim mạch khác, ví dụ như trào ngược dạ dày – thực quản, co thắt thực quản và bệnh đĩa đệm cổ tử cung.

Đó là chưa kể phụ nữ và những bệnh nhân tiểu đường có biểu hiện rất khác biệt, đôi khi chỉ là khó chịu vùng cổ, hàm, bụng; khó thở; đau tay; buồn nôn; chóng mặt; đổ mồ hôi; mệt mỏi. Thậm chí có những người không hề gặp phải dấu hiệu bất thường nào, gọi là bệnh mạch vành thầm lặng. Vì vậy, nếu chẩn đoán bệnh mạch vành mà chỉ dựa trên triệu chứng thì rất dễ bị nhầm với các bệnh lý khác..

Điện tâm đồ có thể chẩn đoán chính xác bệnh chưa?

Điện tâm đồ là một trong số xét nghiệm thường quy để chẩn đoán bệnh mạch vành. Nó giúp ghi lại các tín hiệu điện đi qua tim. Nhờ đó bác sĩ có thể phát hiện sự thiếu hụt lượng máu qua tim, biến chứng dày thành/giãn buồng tim/ rối loạn nhịp tim của bệnh mạch vành, hoại tử cơ tim do nhồi máu cơ tim trước đó.

 Dựa vào điện tâm đồ không thể giúp bác sĩ phát hiện được bệnh mạch vành

Dựa vào điện tâm đồ không thể giúp bác sĩ phát hiện được bệnh mạch vành

Thế nhưng chỉ dựa vào kết quả điện tâm đồ vẫn chưa thể nào chẩn đoán chính xác được bệnh mạch vành. Bởi vì có những trường hợp bị bệnh mà điện tâm đồ vẫn bình thường, trong khi một số khác không có bệnh nhưng điện tâm đồ lại biến đổi (chẳng hạn như phụ nữ, người tăng huyết áp, béo phì).

Tuy nhiên, điện tâm đồ vẫn được sử dụng khá rộng rãi vì đơn giản, giá rẻ, không gây chảy máu và thời gian thực hiện chỉ 5 phút.

Thăm dò chẩn đoán hình ảnh giúp chẩn đoán sớm bệnh mạch vành

Chụp cắt lớp vi tính mạch vành giúp xác định mức độ vôi hóa, vị trí và mức độ hẹp

Chụp cắt lớp vi tính mạch vành giúp xác định mức độ vôi hóa, vị trí và mức độ hẹp

Canxi là một trong những thành phần chính của mảng bám tích tụ trong động mạch vành, gây hẹp, cứng mạch và cản trở sự lưu thông của dòng máu.

Quét canxi mạch vành là phương pháp chẩn đoán bệnh động mạch vành không xâm lấn, nhằm tìm ra vết canxi trên thành mạch. Công nghệ chụp cắt lớp vi tính (CT) sẽ giúp bác sĩ làm điều này. Nếu như nồng độ canxi cao thì tỷ lệ mắc bệnh mạch vành cũng tăng lên. . Cụ thể là người có điểm quét canxi từ 100 - 300 có nguy cơ tử vong vì nhồi máu cơ tim hoặc bệnh tim khác cao gấp 7 lần người ít điểm hơn. Điểm trên 400 là mức xơ vữa động mạch nặng. Quét canxi mạch vành có thể dự báo cơn nhồi máu cơ tim và nguy cơ tử vong ở người bệnh mạch vành không triệu chứng trước 15 năm.

Phim chụp CT cho thấy cấu tạo chi tiết  của mạch vành, mức độ vôi hóa, vị trí và mức độ hẹp. Ngoài ra nó cũng chỉ ra vấn đề bất thường khác của cấu trúc tim.

Tuy nhiên, quét canxi mạch vành không dành cho tất cả mọi người. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) khuyến cáo chỉ định CAC cho những người trên 40 tuổi và có yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch. Không nên quét canxi mạch vành nếu bạn không có dấu hiệu nào của bệnh tim, mới bị nhồi máu cơ tim hay vừa phẫu thuật. Phương pháp này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm xạ và phát triển ung thư.

Chụp mạch vành mới là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán

Theo PGS. Ts Nguyễn Văn Quýnh cho biết: thông tim và chụp mạch vành là xét nghiệm xác định bệnh chính xác nhất hiện nay.

Một ống nội soi được đưa vào từ động mạch đùi đến các động mạch tim, sau đó tiêm chất cản quang vào mạch vành. Thuốc cản quang cho thấy các điểm hẹp và tắc nghẽn trên hình ảnh huỳnh quang. Tuy nhiên, chụp động mạch vành có thể gây nguy hiểm bởi nó khiến mảng xơ vữa bong tách nên cần được thực hiện cẩn thận.

PGS. Ts Nguyễn Văn Quýnh tư vấn cách chẩn đoán bệnh mạch vành mạn chính xác nhất

Nếu như tắc hẹp nghiêm trọng cần điều trị, ống nội soi này có thể mang theo bóng cao su và bơm phồng lên để làm mảng xơ vữa xẹp xuống, cải thiện lưu lượng máu trong động mạch vành. Sau cùng, một ống lưới gọi là stent được để lại để giữ cho mảng xơ vữa không phát triển trở lại. Phương pháp này gọi là đặt stent tim mạch vành, có thể áp dụng cho cả điều trị tắc nghẽn mạch cảnh.

Xem đầy đủ những thông tin về phương pháp chụp mạch vành Tại Đây

Các xét nghiệm máu

Những thử nghiệm này thông qua việc phân tích máu của người bệnh để xác định vấn đề tiềm ẩn bên trong. Gồm có:

Corus CAD

Corus CAD là phương pháp giúp đánh giá mức độ thu hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch vành thông qua phân tích mẫu máu.

  Corus CAD đánh giá mức độ thu hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch vành qua mẫu máu 

Corus CAD đánh giá mức độ thu hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch vành qua mẫu máu

Mẫu máu sẽ được gửi đến phòng thí nghiệm để phân tích và có kết quả trong vòng 72 giờ. Kỹ thuật này phù hợp với những người hay bị đau tức ngực, đau thắt do động mạch vành bị hẹp, có tiền sử mắc bệnh tim mạch, khó thở hay mệt mỏi khi gắng sức hay luyện tập. CAD không dành cho những người đã bị nhồi máu cơ tim hoặc đã phẫu thuật nong động mạch vành trước đó. CAD cũng không được khuyến khích cho người bệnh đái tháo đường, đang sử dụng thuốc chống viêm steroid, hóa trị hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch.

Xét nghiệm protein phản ứng C siêu nhạy (CRP hoặc hs-CRP)

Mức C-reactive protein (CRP) trong máu tăng khi một khu vực nào đó trong cơ thể bị viêm do vi khuẩn, virus hoặc có mảng kích thích làm sưng thành động mạch. Nghiên cứu cho thấy mức CRP cao có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, có thể là vì các tổn thương do viêm hoặc các mảng bám trong động mạch bị bong ra và thoát vào trong dòng máu gây nhồi máu cơ tim hay tai biến mạch máu não.

 CRP cao có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim

CRP cao có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim

Xét nghiệm hs-CRP sẽ đo mức C-reactive protein trong máu. Bệnh nhân không cần nhịn đói trước khi thử máu. Nếu mức CRP máu tăng thì nguy cơ nhồi máu cơ tim cao gấp 1.5 – 4 lần so với những người bình thường. Trong đó, CRP trên 3.0 được coi là nguy cơ cao.

Bất cứ ai có mức triglyceride và/hoặc cholesterol cao, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, tiểu sử gia đình mắc bệnh tim, hoặc có thói quen hút thuốc lá đều nên làm thử nghiệm này. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo nên xét nghiệm hs-CRP cho những người có nguy cơ cao mắc bệnh động mạch vành. Riêng phụ nữ cũng được khuyên thực hiện vì nó cho kết quả chính xác hơn đo mức cholesterol.

Thử nghiệm Hemoglobin A1C (HbA1c)

 Thử nghiệm HbA1c giúp đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim

Thử nghiệm HbA1c giúp đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim

HbA1C thường được sử dụng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường, mới đây nó được ứng dụng để phát hiện bệnh tim. Vì đái tháo đường làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và ngược lại. Vậy nên bất cứ ai bị bệnh này cũng cần thử HbA1c thường xuyên. Mức HbA1c đo được từ 5.0 - 5.5 là bình thường, trên 5.5 - 6 là có đề kháng insulin(insulin resistance) và  từ 6,4 trở lên là bị tiểu đường.

Bên cạnh người bệnh đái tháo đường thì người đã từng bị bệnh mạch vành, người có nhiều yếu tố nguy cơ bệnh tim nhưng không triệu chứng đều cần thử HbA1c thường xuyên.

Các phương pháp chẩn đoán bệnh mạch vành khác

Bên cạnh các liệu pháp then chốt để phát hiện sớm bệnh mạch vành kể trên còn một số xét nghiệm không xâm lấn khác cũng được áp dụng.

Siêu âm tim

Sử dụng sóng âm thanh để vẽ lại hình ảnh trái tim. Từ đây bác sĩ có thể nhận định được tim có bất thường nào về cấu trúc hay không và các bộ phận liệu có đang hoạt động bình thường. Thế nhưng siêu âm tim chỉ giúp phát hiện bệnh khi đã bước vào giai đoạn nặng, bắt đầu gây rối loạn co bóp của buồng tim.

Thử nghiệm C-IMT

   Kỹ thuật siêu âm động mạch cảnh C-IMT

Kỹ thuật siêu âm động mạch cảnh C-IMT

C-IMT là kỹ thuật siêu âm động mạch cảnh có độ phân giải cao, sử dụng phần mềm máy tính để tính toán độ dày của hai lớp lót động mạch cảnh (ở cổ). Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa tình trạng của động mạch cảnh và động mạch vành ở tim.

C-IMT sử dụng kỹ thuật siêu âm B-mode không xâm lấn, không dùng bức xạ nên tương đối an toàn. C-IMT có thể phát hiện các mảng bám mềm cũng như mảng bám vôi hóa, dự báo bệnh tim và nguy cơ đột quỵ não.

Những người có nguy cơ mắc bệnh tim, bệnh mạch máu não và đột quỵ. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến cáo C-IMT cho người trưởng thành có nguy cơ trung bình nhưng không có triệu chứng. Tuy nhiên, một số chuyên gia tim mạch cho rằng thử nghiệm này, cùng với CAC nên được đưa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh mạch vành phổ thông.

Liệu pháp gắng sức

Nếu như bạn thường xuyên gặp phải triệu chứng bệnh mạch vành, nhất là lúc tập thể dục, bác sĩ có thể yêu cầu bạn đi bộ/ đi xe đạp hoặc sử dụng thuốc kích thích tim đập nhanh; đồng thời theo dõi điện tâm đồ trong thời gian này.

Hoạt động này giúp đánh giá khả năng bơm máu của tim trong điều kiện gắng sức. Từ đó xác định liệu bạn có khả năng mắc bệnh mạch vành không và bệnh tiến triển ở giai đoạn nào.

Trên đây là toàn bộ phương pháp chẩn đoán bệnh mạch vành có thể được chỉ định. Không chỉ giúp bác sĩ đưa ra kết luận chính xác, xét nghiệm còn phát hiện được những bất thường khác trong cấu trúc và hoạt động chức năng của tim. Khi có dấu hiệu bất thường hoặc thuộc nhóm nguy cơ cao, bạn nên đến cơ sở y tế uy tín để được hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh mạch vành tốt nhất

Cao Ngọc Hải

Tài liệu tham khảo

https://effectivehealthcare.ahrq.gov/topics/coronary-artery-disease-testing/research-protocolhttps://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/coronary-artery-disease/diagnosis-treatment/drc-20350619

https://www.hfh.com.vn/vi/275/chup-mach-vanh.html

Các bài viết khác

Bình luận

Viết bình luận

Chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên!