Tổng quan về đau thắt ngực

Đau thắt ngực có thể là dấu hiệu của một cơn đau tim tiềm ẩn, đe dọa đến tính mạng người bệnh, nó cũng là triệu chứng của bệnh tim mạch khác hoặc một số bệnh lý về hô hấp, tiêu hóa.

1. Đau thắt ngực là gì?

Đau thắt ngực là cơn đau xảy ra ở vùng ngực trái, người bệnh cảm thấy như đang có một áp lực lớn đang đè ép ngực của mình, đau có thể lan ra vai, cánh tay, cổ, hàm hoặc sau lưng. Một số người còn cảm thấy đầy bụng, khó tiêu.

Đau thắt ngực có thể là dấu hiệu của một cơn đau tim nguy hiểm

Đau thắt ngực có thể là dấu hiệu của một cơn đau tim nguy hiểm

Đau thắt ngực không phải là bệnh mà là triệu chứng của một bệnh tim tiềm ẩn, điển hình như bệnh mạch vành. Đau thắt ngực do bệnh mạch vành xảy ra khi một vùng cơ tim không nhận đủ máu giàu oxy và năng lượng do mạch vành bị chít hẹp hoặc tắc nghẽn. Nguyên nhân bắt nguồn từ mảng xơ vữa hoặc cục máu đông, nếu không kịp thời khơi thông mạch máu, cơn nhồi máu cơ tim sẽ xảy ra, và đe dọa tới tính mạng người bệnh.

Đau thắt ngực cũng có thể là triệu chứng của bệnh vi mạch vành (MVD), khiến cho lượng máu về tim suy giảm nghiêm trọng. nghiên cứu đều chỉ ra rằng, phụ nữ gặp phải bệnh vi mạch vành nhiều hơn nam giới, và 70% phụ nữ thời kỳ mãn kinh bị đau thắt ngực do bệnh này.

2. Đau thắt ngực, ai dễ mắc?

Đau thắt ngực có thể là dấu hiệu của bệnh mạch vành, bệnh vi mạch vành, hoặc các bệnh tim mạch… Sau đây là một số đối tượng cụ thể có nguy cơ cao bị đau thắt ngực:

Người bệnh tăng huyết áp: Tăng huyết áp làm giảm tính đàn hồi của động mạch, khiến nó ngày càng yếu đi và dễ bị tổn thương,tạo điểu kiện hình thành các mảng bám hoặc cục máu đông, gây hẹp động mạch vành, thiếu máu cơ tim.

Người bị rối loạn mỡ máu: Rối loạn mỡ máu tạo thành mảng bám trong lòng động mạch vành, gây nên bệnh mạch vành.

Người cao tuổi: Do sự thoái hóa, lão hóa các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là mạch máu gây tình trạng xơ vữa. Ở người lớn tuổi, bệnh mạch vành và thiếu máu cơ tim cục bộ là hai nguyên nhân chính gây đau thắt ngực.

Người bệnh đái tháo đường: Biến chứng của bệnh đái tháo đường là biến chứng mạch máu và biến chứng thần kinh. Tổn thương mạch máu lớn dẫn đến xơ vữa động mạch và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim

Người béo phì, hút thuốc lá, lối sống thiếu lành mạnh: Có nguy cơ cao bị đau thắt ngực, bởi họ thường bị rối loạn chuyển hóa, nên không khó gì để tạo ra các mảng xơ vữa động mạch vành.

3. Dấu hiệu nhận biết các dạng đau thắt ngực

Đau thắt ngực có 4 dạng chủ yếu, tùy thuộc mức độ nguy hiểm và dấu hiệu của mỗi bệnh sẽ có phương pháp điều trị khác nhau.

Đau thắt ngực ổn định

Là loại phổ biến nhất, xảy ra khi hoạt động gắng sức như đi bộ, leo cầu thang, do tim cần nhiều oxy hơn để hoạt động. Người bệnh có thể thấy cơn đau lan xuống cánh tay, lưng hoặc khu vực khác, kèm theo đầy bụng khó tiêu. Các yếu tố khác có thể kích hoạt cơn đau thắt ngực ổn định bao gồm căng thẳng, stress tâm lý, nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, sau khi ăn no, hút thuốc lá. Các cơn đau thắt ngực ổn định thường có thể dự đoán trước và giảm sau khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch.

Đau thắt ngực không ổn định

Xảy ra do cục máu đông hoặc mảng xơ vữa làm tắc nghẽn đột ngột một phần hoặc hoàn toàn động mạch vành. Các cơn đau có thể xảy ra nặng và kéo dài hơn (trên 30 phút) so với đau thắt ngực ổn định. Ngay cả khi người bệnh không gắng sức, đang trong thời gian nghỉ ngơi hoặc đã uống thuốc, các cơn đau vẫn có thể xuất hiện.

Đau thắt ngực không ổn định là tình trạng nguy hiểm và cần được cấp cứu kịp thời, bởi nó cho thấy một cơn đau tim sắp xảy ra. Thời gian cấp cứu quyết định sự sống còn của người bệnh.

Đau thắt ngực Prinzmetal

Là biến thể đau thắt ngực hiếm gặp, các cơn co thắt động mạch thường xuất hiện vào lúc nửa đêm về sáng. Cơn đau thắt ngực Pinzmetal có xu hướng trở nên nghiêm trọng, tuy nhiền biểu hiện có thể giảm khi uống thuốc điều trị.

Đau thắt ngực vi mạch máu

Đau thắt ngực vi mạch máu diễn ra trong thời gian dài hơn và cũng làm tổn thương tim nghiêm trọng hơn so với tất cả các loại khác. Nó kèm theo các biểu hiện như hơi thở ngắn, khó ngủ, mệt mỏi, thiếu năng lượng và khởi phát bởi sự căng thẳng về tinh thần.

Xét nghiệm chẩn đoán chính xác cơn đau thắt ngực

Nếu có nghi ngờ người bệnh có cơn đau thắt ngực không ổn định hoặc đau liên quan tới bệnh tim nghiêm trọng, bác sĩ sẽ chỉ định thêm các xét nghiệm như điện tâm đồ, thử nghiệm căng thẳng, chụp X quang, chụp mạch vành và thông tim, chụp cắt lớp động mạch vành, xét nghiệm máu…

4. Điều trị đau thắt ngực

Mục tiêu điều trị cơn đau thắt ngực là giảm mức độ, tần suất và ngăn ngừa cơn đau tim xảy ra, gây tử vong cho người bệnh. Với đau thắt ngực không ổn định, người bệnh cần được cấp cứu và điều trị tại bệnh viện. Các biện pháp điều trị được khuyến cáo bao gồm:

Thay đổi lối sống trong điều trị đau thắt ngực

Bạn có thể ngăn ngừa cơn đau thắt ngực khởi phát bằng những thay đổi nhỏ trong lối sống hàng ngày như sau:

  • - Tránh làm việc nặng hoặc gắng sức và nghỉ ngơi nếu đau thắt ngực xuất hiện khi làm việc nặng.
  • Tránh ăn quá no, hoặc thực phẩm gây khó tiêu, đầy bụng nếu cơn đau ngực xuất hiện sau bữa ăn.
  • - Giữ tâm lý thoải mái, tránh căng thẳng, stress kéo dài.
  • - Bỏ thuốc lá, giảm cân nếu bị béo phì
  • - động vật và ngũ cốc tinh chế.
  • - Vận động thể chất thường xuyên, ít nhất 30 phút mỗi ngày bằng các môn thể thao vừa sức như đi bộ, đạp xe, thái cực quyền…
  • - Tuân thủ đầy đủ thuốc của bác sĩ để kiểm soát huyết áp, cholesterol, đường máu…

Thay đổi lối sống làm tăng hiệu quả điều trị đau thắt ngực

Thay đổi lối sống làm tăng hiệu quả điều trị đau thắt ngực

Các loại thuốc điều trị cơn đau thắt ngực

Nhóm nitrat được dùng điều trị đau thắt ngực, nhờ tác dụng giãn mạch vành nên tăng cường lưu lượng máu tới tim, làm giảm nhu cầu tiêu thụ oxy của tim. Điển hình trong nhóm này là Nitroglycerin dạng ngậm hoặc xịt dưới lưỡi được sử dụng để giảm cơn đau ngực, còn dạng uống hoặc miếng dán dùng phòng đau thắt ngực, do chúng có tác dụng chậm.

Người bệnh có thể được bác sỹ chỉ định dùng các thuốc khác để điều trị đau thắt ngực như thuốc chẹn beta giao cảm, thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống đông máu… nhằm giúp:

  • - Kiểm soát huyết áp và cholesterol máu
  • Làm chậm nhịp tim
  • - Giãn mạch máu, giảm áp lực cho tim
  • - Ngăn ngừa hình thành cục máu đông

Những người bị đau thắt ngực có thể được tư vấn tiêm phòng cúm hàng năm để tránh gặp phải cơn nhồi máu cơ tim sau này.

Vai trò của thảo dược trong hỗ trợ điều trị đau thắt ngực

Bên cạnh các thuốc điều trị tây y, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các thảo dược với công dụng giãn mạch, hoạt huyết như Đan sâm cũng có vai trò không nhỏ trong việc cải thiện tuần hoàn mạch vành, giảm áp lực lên tim, giảm đau thắt ngực và phòng ngừa cơn nhồi máu cơ tim, suy tim. Đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc đại học Hoshi, Tokyo, Nhật bản. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu sử dụng hoạt chất Tanshinone IIA có trong Đan sâm ngay sau nhồi máu cơ tim, sẽ làm mất đi hoặc giảm đáng kể kích thước vùng thiếu máu, và hạn chế được tình trạng hoại tử cơ tim. Đan sâm còn giúp bảo vệ cơ tim bằng cách giảm tiêu thụ năng lượng và nhu cầu oxy của cơ tim, giúp nâng cao sức chịu đựng của tim, chống lại rối loạn chức năng cơ tim do thiếu oxy.

Một số thảo dược khác như Vàng đằng với hoạt chất berberin cũng làm giảm yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành bằng các ngăn ngừa viêm mạch máu và giảm cholesterol máu.

Can thiệp y tế điều trị đau thắt ngực

Nếu thay đổi lối sống và thuốc không kiểm soát được các cơn đau thắt ngực, bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn một số can thiệp y tế như nong mạch, đặt stent và bắc cầu động mạch vành nhằm mở rộng phần mạch bị hẹp, cải thiện lưu lượng máu tới tim, làm giảm đau ngực, ngăn chặn cơn đau tim.

Đau thắt ngực là một tình trạng nguy hiểm, nhưng bạn có thể phòng ngừa và điều trị hiệu quả nếu thực hiện một lối sống lành mạnh, tuân thủ điều trị và kết hợp các giải pháp hỗ trợ phù hợp.

Xuân Thủy

Nguồn tham khảo: www.nhlbi.nih.gov

Xem chia sẻ kinh nghiệm trị bệnh tim hiệu quả

Các bài viết khác

Bình luận

Viết bình luận

Chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên!